Sunday, November 23, 2008

Để tránh cãi vã giữa hai vợ chồng

Ngày nọ, một tu sĩ Dòng Thánh Phan-xi-cô đến thăm một gia đình ở gần tu viện. Thấy bà chủ nhà đang khóc, ngài hỏi: "Có chuyện gì mà buồn phiền vậy?" Bà ta trả lời: "Thưa thầy, chồng con thường hành hạ con, đôi khi còn đánh đập nữa..." Vị tu sĩ nói: "Tôi biết bà là một người tốt, vì thế, tôi xin tặng cho bà một liều thuốc kỳ diệu."

Người đàn bà thắc mắc hỏi lại: "Thưa thầy, thuốc gì vậy?" Tu sĩ trả lời: "Ðây, bà cầm lấy chai nhỏ nầy. Mỗi khi chồng bà nổi cơn lôi đinh, bà cứ ngậm một hớp nước kỳ diệu chứa trong chiếc chai này, cơn giông tố sẽ tan biến một cách huyền nhiệm."

Bà chủ nhà đã thi hành đúng như lời vị thầy tu đáng kính đã dặn. Cứ mỗi khi ông chồng nổi cơn la lối om sòm, bà liền kín đáo ngậm vào miệng một hớp nước trong chiếc chai, và đương nhiên bà không thể mở miệng để trả lời. Thấy vợ hiền lành và lặng thinh. ông chồng bình tĩnh trở lại và cơn giận cũng theo mây khói ngay lập tức.

Ít lâu sau, vị đạo sĩ trở lại thăm và hỏi: "Liều thuốc của tôi có hiệu nghiệm chút nào không?" Bà chủ nhà trả lời: "Thưa thầy, ngậm lâu trong miệng ngụm thuốc của thầy cũng có làm con thấy hơi mệt, nhưng hiệu quả thì thần diệu quá sức, thầy ạ!" Vị tu sĩ chậm rãi bảo: "Chắc chắn rồi, nhưng chẳng phải nước lạ chi đâu, chỉ là nước lã bình thường thôi đấy, nước của sự nhẫn nại và chịu đựng, nước của sự hiền hòa bao dung... Tôi có sẵn một chai nước như thế nữa cho chồng bà đây!"

Quang Uy sưu tầm, trích Nối Lửa Cho Ðời số 8

(Trích dẫn từ Ephata Việt Nam số 33, năm 2001)

Hãy là một người mẹ xứng đáng trước đã

Khi Mẹ và các anh em Chúa Giê-su đến tìm Ngài, một phụ nữ lên tiếng: "Phúc cho lòng dạ đã cưu mang Ngài và vú đã cho Ngài bú" (Mt 12, 46 - 50). Ý của người phụ nữ đó là muốn ca ngợi Mẹ Ngài: Ðược làm Mẹ Ngài là một hạnh phúc tuyệt vời, một vinh dự lớn lao, vì được làm mẹ của một vị tiên tri, một Ðấng Cứu Thế: một con người vĩ đại và lý tưởng.

Ðọc đoạn Tin Mừng này chắc hẳn có nhiều người mẹ đã nghĩ: Phải chi mình sinh được một người con làm vĩ nhân: phải chi những đứa con của mình biết sống đạo hạnh, cao thượng theo gương Ðức Giê-su. Chắc chắn người mẹ nào cũng mong ước con mình nên người xứng đáng, hữu ích cho gia đình, xã hội và quê hương. Ðó là những mong ước rất chính đáng.

Trong số những phụ nữ có con, Ðức Ma-ri-a là người diễm phúc nhất. Nhưng không phải Ngài được diễm phúc đó một cách ngẫu nhiên, không có công lênh gì. Cuộc sống và chí hướng của Ngài cho thấy Ngài xứng đáng được vinh dự đó. Nói chung, người mẹ nào cũng muốn có con tài giỏi, đức hạnh hơn người. Nhưng vấn đề là chính người mẹ có xứng đáng có những người con như lòng mình mong ước không? Mình có xứng đáng với chính đứa con mình sinh ra không? Mình có sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, sống một cuộc đời đẹp lòng Thiên Chúa để xứng đáng với một người con thánh thiện tốt đẹp mà Thiên Chúa có thể ban cho mình không?

Cái gì cũng có cái giá của nó. Ðược làm Mẹ Ðức Ki Tô, Ðức Ma-ri-a cũng phải là một người như thế nào đó tương xứng với diễm phúc đó. Cái giá Ngài trả cho vinh dự đó chắc hẳn rất nhiều người mẹ không dám chấp nhận. Ðôi khi đành chấp nhận có những đứa con tầm thường hơn là phải chấp nhận những hy sinh cao cả để có được những người con cao cả!

Ðức Giê-su nói: "Những kẻ làm theo Thánh Ý Cha Ta trên trời mới là Mẹ và là anh chị em Ta" (Mt 12, 50). Như thế, xem ra Ngài đã coi nhẹ cái vinh dự làm nhân vật này hay nhân vật kia, cho dẫu là làm Mẹ Ðấng Cứu Thế đi nữa. Ðiều Ngài đặt nặng là "làm theo Thánh Ý Cha trên trời". Chỉ có Thánh Ý Thiên Chúa mới là chuyện quan trọng, còn tất cả mọi sự khác - dù là hạnh phúc, vinh dự hay chính mạng sống của mình đi nữa - đều không đáng phải quan tâm cho bằng Thánh Ý Thiên Chúa. Nhưng chính vì Ngài coi mình không là gì cả mà Ngài trở thành vĩ đại.

Chính vì Ngài sẵn sàng tự hạ nên Ngài được tôn vinh (Pl. 2, 6 - 11). Với tinh thần như thế, chắc chắn Ngài không đặt nặng cái vinh quang của một Ðấng Cứu Thế mà muôn đời phải tôn thờ, một vị Tôn Sư mà muôn thế hệ phải vâng nghe. Ðiều duy nhất mà Ngài quyết tâm thực hiện và quan tâm suốt cả cuộc đời là làm sao sống cho đúng Thánh Ý Thiên Chúa Cha, làm tất cả những gì Thiên Chúa Cha muốn Ngài làm. Không phải là Ngài vô cảm trước những vinh quang trần thế, không phải là của cải vật chất không quyến rũ Ngài, không phải là Ngài không hề bị lôi cuốn vào con đường hưởng thụ của thế gian. Ngài cũng bị cám dỗ (Mt 4, 1-11), cũng phải chiến đấu với chúng ta ở chỗ không bao giờ thất bại trong những cuộc chiến đấu. Lý do là Ngài yêu mến Thiên Chúa tha thiết hơn chúng ta, sự lựa chọn căn bản của Ngài - là lấy Thánh Ý Thiên Chúa làm lẽ sống - dứt khoát và mạnh mẽ hơn sự chọn lựa của chúng ta.

Sự chọn lựa căn bản của Ngài là dứt khoát đứng về phía Thiên Chúa chứ không về phía bản ngã của Ngài, về phía Thánh Ý Thiên Chúa chứa không về phía ý riêng của Ngài. Ngài đã dứt khoát một lần thay cho tất cả "sát tế" cái "tôi đáng yêu" của Ngài cùng với ý riêng của Ngài như một của lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa Cha. Và Ngài cũng lập lại sự "sát tế" đó trong từng giây phút cuộc đời Ngài. Sự lựa chọn căn bản đó khiến Ngài nói: "Ta đến không phải để làm theo ý Ta mà theo ý Ðấng đã sai Ta" (Ga 6, 38), "Ta không tìm ý riêng Ta mà tìm ý Ðấng đã sai Ta. Ta không tự ý mình làm một điều gì" (Ga 5, 30). Không phải Ngài nói không có ý riêng, và không phải ý riêng của Ngài lúc nào cũng phù hợp với ý của Thiên Chúa. Nhưng lập trường của Ngài lúc nào cũng là: "Xin đừng theo ý con, mà hãy theo ý Cha" (Lc 22, 42).

Ðức Giê-su thế nào thì Mẹ Ngài cũng như vậy. Suốt đời, lúc nào Ðức Ma-ri-a cũng đặt ý Chúa lên hàng đầu, Ngài sẵn sàng hy sinh tất cả cho Thánh Ý Thiên Chúa. Vì thế, Ngài đã thành tựu được mọi sự tốt đẹp, đã trải qua mọi thử thách ghê gớm một cách chiến thắng. Nếu không đặt ý Chúa lên hàng đầu làm sao Ngài có thể im lặng đứng nhìn con quằn quại trên Thánh Giá đầy đau thương nhục nhã, mà không vật vã khóc lóc thảm thiết như những bà mẹ khác? (Ga 19, 25). Ðâu phải Ngài không thương con bằng những bà mẹ khác! Ngài có thái độ can đảm như thế chỉ vì Ngài biết thuận theo thánh Ý Thiên Chúa. Chắc chắn lúc đó Ngài lập lại tiếng "xin vâng" như hồi được Thiên Sứ truyền tin (Lc 1, 38), và như thói quen của Ngài trong suốt cuộc đời. Có thể nói toàn bộ cuộc đời Ngài được dệt bằng những tiếng "xin vâng" như thế!

Xét về bản tính con người, chắc chắn Ðức Giê-su cũng chịu ảnh hưởng Ðức Ma-ri-a rất nhiều. Ðức Giê-su đã sống thật thánh thiện sống hoàn toàn phù hợp với Thánh Ý Thiên Chúa một phần nào đó là nhờ gương sáng và sự dạy dỗ của Ðức Ma-ri-a và Thánh Giu-se. Nếu Ðức Giê-su đã nói: "Cứ xem trái thì biết cây..." (Mt 7, 16 - 18), ta có thể hiểu được con người của Ðức Ma-ri-a khi ta biết được con người của Ðức Giê-su. Nếu câu tục ngữ Việt Nam "Con gái nhờ đức cha, con trai nhờ đức mẹ" mà đúng, thì nó càng đúng trong tương quan của Ðức Giê-su và Mẹ Ngài.

Ðức Ma-ri-a lúc nào cũng mong con mình biết luôn luôn tuân theo ý Thiên Chúa, sẵn sàng hy sinh ý riêng để làm theo ý Thiên Chúa. Ngài chỉ mong con mình làm điều đó, mà chính Ngài đã làm gương về điều đó một cách trọn hảo. Ðức Giê-su đã noi gương Mẹ mình và trở nên một người hoàn toàn đẹp lòng Thiên Chúa (Mt 3, 17; 17, 5). Và Ðức Giê-su đã nhận ra rằng cái diễm phúc to lớn của Mẹ mình không hệ tại được làm Mẹ Ðấng Cứu Thế hay Mẹ của vị Thiên Chúa Nhập Thể, mà hệ tại việc Ngài hoàn toàn làm theo Thánh Ý Thiên Chúa. Ngài đã nhìn vào nguyên nhân sâu kín chứ không nhìn vào hậu quả trước mắt. Nếu Mẹ Ngài không biết tuân hành ý Thiên Chúa thì làm sao xứng đáng với diễm phúc ấy?

Ðó là một bài học thật qúy giá cho mọi người mẹ. Nếu ta mong muốn con cái mình trở nên người tốt, thánh thiện, biết tuân hành Thánh Ý Thiên Chúa, thì chính ta phải thực hiện điều đó trước đã. Chính ta phải làm gương trước rồi dạy con làm theo gương đó. Muốn con mình sống thế nào thì ta hãy sống như thế trước đã, và rồi ta sẽ thấy "mẹ nào con nấy". Lúc đó diễm phúc của ta là ở chỗ làm theo Thánh Ý Chúa chứ không phải ở chỗ con ta trở thành thế này hay thế kia. Nếu ta đã làm đúng theo ý Thiên Chúa, ta đừng sợ con mình sẽ hư hỏng, hay không được như ta ước nguyện. Gương Thánh Monica và Augustino khuyến khích những người mẹ hiện đang có những đứa con hư hỏng hãy kiên trì tin vào Chúa, vào hiệu lực của lời cầu nguyện.

Tóm lại, hãy lo thực hiện Thánh Ý Thiên Chúa trước đã, hãy trở nên một người mẹ xứng đáng trước đã, còn mọi sự khác hãy phó thác cho Thiên Chúa, Ngài sẽ ban cho sau (x. Mt 6, 33).

Giáo sư Nguyễn Chính Kết

(Trích dẫn từ Ephata Việt Nam số 35, năm 2001)

Vai trò làm chồng và làm cha

Vai trò Làm Chồng

Báo phụ nữ có tổ chức một diễn đàn mang tên "chấp nhận hay không những người làm chồng vô tư ?". Ðối với những cô vợ trẻ, thật lòng mà nói, quả khó mà trả lời câu hỏi "chấp nhận hay không". Nhiều gia đình xem ra hạnh phúc, không có những chuyện xào xáo giữa vợ chồng, cuộc sống hôn nhân dường như bình thản trôi theo ngày tháng. Nhưng không phải là gia đình đó không có vấn đề. Sự bất mãn âm ỉ cháy và lớn lên ngày này qua ngày khác.

Một người vợ tâm sự: "Khác với chồng chị Dung, chồng tôi là một cán bộ, anh sống vô cùng liêm khiết và tỏ ra rất có trách nhiệm đối với công việc. Nhưng cuộc đời anh ấy hầu như chỉ để dành cho công việc, còn gia đình đối với anh dường như chỉ là một quán trọ để anh ngủ qua đêm và trú mưa tránh nắng".

Một chị khác than thân: "Còn ông chồng tôi, luôn luôn tích cực với công tác nhà xứ, quan tâm đến mọi vấn đề xã hội, lo toan đủ mọi chuyện bức xúc của anh em hàng xóm, nhưng đối với việc nhà, việc học hành của con cái, việc giúp cho gia đình giải trí vui chơi, anh luôn luôn coi đó là chuyện nhỏ, có gì đâu mà phải đặt thành vấn đề, hay mọi khó khăn bất ổn theo dòng thời gian đều sẽ ổn thôi !".

Làm sao để gia đình được ấm êm, hạnh phúc? Những yếu tố nào làm rường cột cho hạnh phúc gia đình? Gia đình nào cũng được cấu tạo bởi ba thành phần: chồng hay cha, vợ hay mẹ, và con cái. Người chồng hay người cha là chiếc mái che mưa chống nắng. Người vợ hay người mẹ là rường cột nâng đỡ cho nóc nhà. Còn con cái là tất cả những chi tiết khác làm cho mái ấm được khang trang vững bền. Tuy nhiên, hạnh phúc gia đình tùy thuộc vào người chồng, người cha rất nhiều, một cách cụ thể tùy thuộc vào khả năng bao bọc, chở che, cần cù, can đảm, tâm lượng bao dung tha thứ, hay bản lãnh... của người chồng, người cha.

Như thế, đối với người đàn ông trong gia đình, yêu nhau, lấy nhau, chung sống với nhau chỉ là giai đoạn khởi đầu để bắt đầu bài học làm chồng, làm cha cho suốt cả đời người và trong chính cuộc sống bình dị của mình. Có như thế người chồng hay người cha mới tạo được hạnh phúc vững bền, mưu ích cho chính mình và xã hội.

1. Biết mình biết người

Biết mình biết người, từ ngữ này mới nghe tưởng chừng thật đơn giản, dễ dàng: "tôi không biết mình thì còn ai biết?", hay "vợ tôi mà tôi không biết sao?". Trong thực tế, khi đụng chuyện mới vỡ lẽ ra: "sao thế giới các bà bí ẩn quá!", "tôi không hiểu bà ấy muốn nói gì!".

Muốn hiểu thì phải thắc mắc, phải đi tìm lời giải đáp và chắc chắn phải quan tâm hơn về "cái xương sườn cụt" của mình. Mấy thằng bé trong xóm tôi cứ lải nhải ca cẩm: "Con gái nói không là có...". Hẳn nhạc sĩ Ngọc Lễ, người sáng tác bài ca ấy, đã hiểu đâu là nguyên ủy để xây dựng tình yêu đích thực với bạn tình Phương Thảo của mình.

- Ta biết ta là nam và có một người nữ đi cùng.

- Ta biết ta vô tâm, nhưng bên cạnh ta có người dễ quan tâm đến mọi vấn đề.

- Ta biết ta vô tư, nhưng người bên cạnh ta luôn để ý mọi chuyện lớn nhỏ trên đời.

- Ta biết ta hay trầm tư, nhưng người bạn của ta luôn luôn cần ta ngỏ lời, cho dù chỉ bằng ánh mắt.

2. Nói ngôn ngữ mà nàng hiểu

Nghe một đứa trẻ mới bập bẹ tập nói, tôi thấy nó phát ra những âm thanh mà tôi không sao hiểu được. Thế mà mẹ nó phiên dịch cho tôi từng lời. Trong đời sống vợ chồng, không dễ gì làm cho nhau đổi thay, nhưng điều dễ làm hơn là chấp nhận nhau và hiểu nhau để cùng hòa hợp và làm cho đôi tim đập chung một nhịp.

Trong đời sống vợ chồng còn có cả một sức sống mãnh liệt mà Thượng Ðế ban tặng. Ðó là đời sống tình dục mà ngôn ngữ biểu tượng của nó thật xúc tích và phong phú, gắn bó sâu chặt vào sứ mạng yêu thương và làm cho mặt đất phong nhiêu hơn.

Nhưng trong thực tế, nhiều đôi vợ chồng ly tán vì không hòa hợp trong cái lãnh vực khó nói nhưng không thể thiếu trong đời sống vợ chồng ấy. Người chồng phải luôn luôn chứng tỏ lòng ưu ái đối với vợ, chăm sóc quan tâm đến vợ, lời nói dễ đón nhận nhất là lời nói phát xuất tự con tim đầy trắc ẩn, chan chứa tình cảm thân thương, nó sẽ làm cho người vợ nhớ mãi.

3. Ðồng hành với vợ

"Ðang ngủ ngon bỗng nghe tiếng khóc thét của trẻ trong đêm làm tôi thức giấc, và sau đó tôi nghe thấy một tràng than phiền của chồng: "Kỳ quá! sao em cứ để nó khóc hoài! nó khóc hoài làm sao anh ngủ được?... Bực quá! ngày mai anh còn phải đi làm nữa đấy!"".

Ðối với con cái, giữa hai vợ chồng, ai có trách nhiệm hơn ai? Ngày nay, trong cuộc vượt cạn của các sản phụ thường có sự góp mặt của các ông chồng bên cạnh. Ðó quả là một nguồn trợ lực tích cực nhất cho các bà lúc mang nặng đẻ đau.

Ở Nhật-bản, các ông chồng thỉnh thoảng lại chuyển đổi vai trò với vợ, các ông trở về nhà mình đóng vai trò nội trợ trong gia đình để hiểu những khó khăn, trăn trở của các bà trong nghề nội tướng.

Tại Tây-ban-nha, chính phủ đang chi phí một ngân sách 876.000 đô-la cho các chương trình vận động giới đàn ông trong nước làm việc nội trợ nhiều hơn. Một chương trình vận động, quảng cáo trên truyền hình chiếu cảnh một doanh nhân đang đi dạo chơi với người vợ vốn rất ít được chồng giúp đỡ việc nhà. Chương trình kết thúc với khẩu hiệu: "Ðừng chỉ nói mà thôi!" Mỗi gia đình là một trách nhiệm cần được chia sẻ. Một công trình nghiên cứu do viện phụ nữ ở Madrid thực hiện cho biết trung bình mỗi tuần các ông chồng Tây Ban Nha chỉ bỏ ra 2 giờ 30 phút để chăm sóc nhà cửa con cái, trong khi các bà vợ mất hết 9 giờ.

Nói tóm lại, khi người chồng cùng đồng hành với vợ thì mới cảm thông được những chuyện nhỏ, nhưng nhờ vậy mà làm nên cả một hạnh phúc cho mái ấm gia đình.

Vai Trò Làm Cha

1. Người cha phải khoan dung, đại lượng:

Con cái cần được ai đó chứng tỏ tình yêu mà họ dành cho chúng. Cha nào mà không yêu con, thương con, mến con... Nhưng điều cần thiết là phải làm sao chứng tỏ được tình yêu của mình cho chúng thấy. Người cha sống trong gia đình cần phải luôn luôn thể hiện sự rộng lượng của mình đối với con cái, rộng lượng về tình cảm, về lòng tha thứ, không nhỏ mọn. Người cha cần phải thể hiện tinh thần quân tử, đừng bao giờ tỏ ra hẹp hòi, đừng coi trọng cá nhân mình mà không nghĩ đến người khác. Người cha cũng cần có óc phục thiện, luôn thành thật và không bao giờ giả dối.

"Ngày tôi còn bé, mẹ tôi hay nói với tôi: "Bố con là số một". Tôi không để ý cho lắm câu nói trên khi mình vẫn còn trong tuổi bồng bột. Nay đến tuổi trưởng thành, tôi mới khám phá thêm về hình ảnh cha tôi. Trước năm 1975, cha tôi là một nhà giáo. Nay cha tôi già yếu nhưng vẫn luôn luôn là điểm tựa cho mọi người trong gia đình: điểm tựa về kiến thức, về cách sống. Chưa lần nào cha tôi lớn tiếng la mắng, mà chỉ rất nhỏ nhẹ trước những lầm lỗi của anh chị em tôi. Còn gì hạnh phúc bằng có một người cha như thế !".

"Ðối với tôi, người cha luôn luôn là một biểu tượng sống động nhất trong gia đình, một biểu tượng không thể thay thế được: nghiêm khắc nhưng khoan dung, cương quyết nhưng độ lượng, thịnh nộ nhưng tha thứ, xa cách nhưng rất gần gũi, yêu thương nhưng công bằng. Người cha vừa là biểu tượng cho một thế hệ đi trước đầy kinh nghiệm sống, vừa là chiếc cầu nối giữa hai thế hệ trong gia đình".

2. Phải dành thì giờ cho con cái:

Các nhà tâm lý xã hội học, các nhà giáo dục Mỹ vừa lên tiếng báo động về quĩ thời gian dành cho việc chăm sóc con cái trong các gia đình Mỹ là quá ít. So với những công việc khác, thời gian mà các bậc cha mẹ dành để làm những việc thiết yếu cho con cái như lo cho chúng tắm rửa, ăn uống, đọc sách, chơi đùa... là quá hiếm hoi. Trung bình, một người mẹ có đi làm thường chỉ dành cho con khoảng 6, 6 giờ mỗi tuần, so với trước là 35, 1 giờ. Còn người cha có đi làm thì khoảng 2, 5 giờ, so với trước là 17, 4 giờ. Các chuyên gia về gia đình cho rằng: một trong những chức năng của cha mẹ là hướng dẫn con cái vào những lúc rảnh rỗi trong những công việc của chúng đối với gia đình, trong cách xử sự đối với bạn bè, trong những việc chúng cần phải làm. Thời gian dành cho việc chăm sóc con cái phải là "thời gian chất lượng", không thể là thời gian thừa thãi, nghĩa là những lúc mình mệt mỏi không thể làm gì khác được.

3. Phải hiểu thế giới tâm hồn của con cái:

Muốn thế, người cha phải coi mình là đứa trẻ để hiểu chúng và trò chuyện với chúng bằng ngôn ngữ của chúng. Những giây phút chuyện trò đó đem lại niềm vui cho cả cha lẫn con. Vui chơi, giải trí đối với các em không chỉ là phương tiện để lấp đi số giờ dư, mà còn là để các em tập sống đúng hướng cho các em bước vào đời. Và qua vui chơi giải trí, người cha khám phá ra cá tính của con mình và những cái nó không thể giãi bày cho ta được.

4. Cần thiết lập những giới hạn

Ðối với con cái, cần thiết lập cho chúng những giới hạn, một cách chính xác và công bằng: "Trong các gia đình nền nếp Việt Nam, tôi thấy có cách xử phạt đáng suy nghĩ: người lớn bắt trẻ em nằm sấp trên giường, kể tội cho trẻ nghe. Có người hỏi: con đã biết tội con chưa? Có đáng đánh đòn không? Sau đó họ dùng roi quất vào mông trẻ kèm theo lời căn dặn phải chừa bỏ, và nếu tái phạm thì phải chịu đòn nhiều hơn. Mặc dù không ủng hộ roi vọt, nhưng tôi cũng thấy cách này có nhiều ưu điểm. Trước hết, nó thể hiện rõ tính nghiêm túc của công việc uốn nắn, giáo dục trẻ; thứ đến nó bảo đảm thái độ đúng đắn của bậc cha mẹ, và sau cùng nó không thô bạo, chà đạp nhân phẩm, nhân cách của trẻ".

Ðể giáo dục con cái, người cha phải là mẫu mực để giúp chúng nhận ra đâu là phải, đâu là trái, giúp chúng có thái độ chuẩn mực khi bước vào cộng đồng xã hội với một trách nhiệm xây dựng cộng đồng đó. Chính quan niệm sống hôm nay của người cha ảnh hưởng mạnh mẽ trên con cái trong tương lai. Vì thế, người cha cần phải:

- thưởng phạt công minh

- phạt vì yêu thương, vì muốn con nên tốt

- lời răn dạy thật từ tốn, nhưng chan chứa khoan dung và thăng tiến, chứ không trì chiết, chà đạp chúng.

5. Những giây phút thư giãn:

Cần phải tạo ra những giây phút thư giãn và không gian thoải mái cho con cái và gia đình: Nếu bản thân người cha luôn luôn lạc quan, đầy nhựa sống, thì điều đó sẽ tạo cho con cái những giây phút nhẹ nhàng và thoải mái. Nhờ thế, gia đình không còn là không gian trống vắng nhưng thật sự là điểm hội tụ của mỗi người. Tiếng cười sảng khoái thật dễ lây lan. Quả thật khi người ta vui, tất cả những gì người ta gặp đều trở nên thích thú, kể cả những gì hết sức bình thường. Khi người ta vui vẻ, người ta trở nên dễ cảm thông, dễ gần gũi và trao đổi hơn.

Lời Kết

Món quà đẹp nhất không đến từ những chiếc hộp mà đến từ trái tim của bố mẹ và nó sẽ tồn tại mãi trong suốt cuộc đời của trẻ. Trẻ em nào cũng nằm lòng câu ca dao: "Công cha như núi Thái Sơn". Nhưng cái gì có thể ghi khắc được tình yêu đó vào lòng con trẻ nếu không phải là thái độ của cha đối với con qua cách thể hiện ở hành động thiết thực dành cho chúng. Sau đây là một lời minh họa cụ thể:

"Cả đời tôi luôn luôn văng vẳng lời trăn trối của cha: "Con hãy luôn luôn sống cho xứng đáng với giá trị của một con người, con nhé!" Cha tôi đã vĩnh biệt trần gian với khuôn mặt thật bình yên thanh thản. Hiện nay, tôi và em gái tôi đều làm nghề dạy học, nghề mà cha tôi hằng quí trọng. Em gái tôi đã có chồng và đã có mái ấm gia đình riêng. Mẹ tôi vẫn ở chung với tôi. Tôi đã có vợ và hai con như một qui luật tự nhiên. Giờ đây tôi lại đặt niềm hy vọng và mơ ước nơi các con tôi. Tôi lại thấy mình phải có bổn phận và trách nhiệm đối với các con".

Con cái chúng ta chính là bản thân tương lai của chúng ta, là "cái tôi" khác của chúng ta. Và chúng ta sẽ sống mãi với thời gian trong con cái, trong những thế hệ mai sau của chúng ta. Vì thế, những gì chúng ta làm cho con cái, là chúng ta làm cho chính chúng ta, cho bản thân tương lai của chúng ta.

Giáo sư Nguyễn Hùng Cường

(Trích dẫn từ Ephata Việt Nam số 35, năm 2001)

Friday, November 21, 2008

Bố - Người thày của tôi

Nét vẽ của Bé Ký đơn sơ và mộc mạc nhưng chứa đựng cả một tâm hồn lớn. Đề tài của bà rất đời thường và giản dị, gồm những cảnh sinh hoạt nơi miền quê thôn dã hay sinh hoạt gia đình. Chủ đề tình cảm gia đình như mẹ con hay bà cháu rất hay được bà khai thác, có lẽ do thiếu tình yêu thương của người mẹ từ khi còn nhỏ cho nên tất cả tình cảm đã được bà dồn nén thể hiện lên các bức tranh. Mỗi bức tranh đều chứa những cảm xúc và sắc thái riêng, có thể gợi nên kỷ niệm của cả một đời người. Những bức tranh mực tàu thể hiện được rõ cá tính riêng của bà. Chỉ vài nét phóng bút với bố cục đơn giản và gọn gàng vẫn gợi ra được nhiều hình ảnh với người xem. Tranh bà có những nét vẽ của tranh dân gian nên gợi cho người xem một sự hoài cổ, sâu lắng,

Tôi biết tranh bé Ký từ nhỏ, vì những tranh này nằm trong cuốn sách học của tôi. Tôi vẫn thường kẻ ô trên các tranh vẽ này, và dùng giấy tập để vẽ lại....Vẽ lại không khó, vì chỉ toàn đường với nét, nhưng để tạo ra tác phẩm thì quả là không đơn giản chút nào

Bố cũng thích tranh bé Ký như tôi. Bố thường hay vẽ các bức tranh bằng những đường nét, kiểu hí hoạ của bé Ký .Thuở ấy, tôi đâu làm sao cảm nhận được cái hay, cái đẹp của các bức tranh bé Ký hay biếm hoạ của Choé. Bố đã giảng giải, chỉ cho tôi cách đọc, phân tích ý nghĩa của bức tranh qua các chi tiết thể hiện

Bố chính là người thày đầu tiên dạy tôi nhiều mặt văn, thể, mỹ...

Khoảng thời gian bố trổ tài nhiều nhất là lúc chúng tôi học trường Trần Quý Cáp và năm chị N học lớp 6 trường SNA. Đó là những năm 1969 - 1973...

Bố vẽ không đẹp, nhưng bố có cách làm việc tuyệt vời, biến không thành có. Nếu cần bố vẽ tranh lập thể hoặc trang trí bằng các hình tròn, chữ nhật, đường thẳng, xen lẫn nhau, thì chỉ cần đáy lon sữa bò, hay một góc cạnh của món đồ chơi cũ...bố đặt lên giấy vẽ, dùng viết chì, gạch, kẻ rồi phối các màu sắc lên là xong. Nhưng không phải xong là xong chuyện, mà đó thực sự là một tác phẩm, bạn à Một công việc đối với người này nhiều khi vất vả, nhưng đối với bố cứ nhẹ nhàng như không có gì

Co lần, chúng tôi phải làm lồng đèn Trung Thu. Các bạn tôi nào là mua giấy bóng kiếng, tre, hi hà hì hục làm đèn ngôi sao, cá chép...còn lồng đèn của tôi, bố đã giúp tôi thực hiện rất nhanh gọn. Bố sử dụng những tờ giấy khổ A4, đủ màu : xanh, hồng, vàng...Bố dùng viết lông vẽ lên những bức tranh đồng quê, sông, núi, mặt trời...bằng những nét đơn sơ giống tranh bé Ký....Sau đó, tôi chỉ việc xếp lại thành đèn xếp, đèn kéo quân hay đèn quả trám. Và dĩ nhiên, tôi đã có những chiếc lồng đèn đặc sắc nhất lớp

Có lần,chị N phải làm khẩu hiệu mừng Xuân. Đó là 2 câu đối. Tôi còn nhớ, bố đi tìm cái dĩa to, úp lên giấy thủ công, từ đó, bố kẻ những nét chữ theo đường tròn ấy...Nhờ vậy, khẩu hiệu đã thực hiện rất nhanh, dễ dàng và đẹp nữa.

Năm tôi học lớp 12, lớp tôi bắt buộc tham dự cuộc thi viết bài nhân kỷ niệm ngày thành lập Đoàn TNCS HCM,...Nhưng vì bận học thi Đại Học, nên gần hết thời hạn nộp bài rồi, mà chẳng có ai viết cả. Vừa là Ban cán sự lớp, vừa giỏi Văn, tôi bị thày Nhiều chỉ định viết bài đại diện cho lớp. Gấp quá, tôi về nhà hỏi bố. Bố cầm tờ báo đăng tin Hoàng Thị Hồng Chiêm, vừa ôm bom liều mình lao vào quân giặc, và hy sinh trong chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc năm 1979. Bố nói tôi lấy đề tài là "Những tiếng bom" và hãy viết vê tiếng bom Sa Điện của Phạm Hồng Thái, tiếng bom Ngô Mây trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tiếng bom Nguyễn Văn Trỗi trong kháng chiến chống Mỹ, và Hoàng Thị Hồng Chiêm của thời nay...

Sau đó, cùng với bài "Đi trên đường CáchMạng Tháng 8, một vài suy nghĩ", bài "Những tiếng bom" của tôi dã được Quận Đoàn Quận 10 chọn làm bài dự thi trên thành phồ.

Bố luôn rèn luyện cho chúng tôi cách khai thác tối đa một đề tài nào đó. Hôm đó, bố giao cho tôi viết thư cho 5 người : bác Bé, bác Thụ, bác Kỳ (Hà Nội), bác Khải (Pháp), cô Thịnh (Hoà Lan). Bố nói tuy là thư hỏi thăm, nhưng tình cảm của tôi đối với các cô, các bác rất khác nhau, hoàn cảnh sống cũng khác nhau, nên viết phải khác nhau, không được trùng ý, trùng lời...

Nhờ sự nghiêm khắc của bố, nên sau này, tôi có thể viết rất nhiều bài cho cùng một thể loại, đề tài. Năm tôi học Võ văn Tần, chúng tôi phải làm báo tường kỷ niệm ngày sinh Hồ Chủ Tịch. Các bài viết yêu cầu viết bằng tiếng Nga. tôi nhận một lượng bài của các bạn,với nội dung nghèo nàn, lỗi văn phạm sai nhiều, đăng bài cũng khó, mà bỏ đi, thì tôi buộc phải viết lại tất cả cho các bạn rồi để tên mọi người vào. Nhờ các kỹ năng bố rèn luyện từ nhỏ, tôi cùng với sự phụ hoạ thêm của 2 bạn trai khác đã thực hiện tờ báo trong 3 đêm liền, từ việc trang trí, đến khâu sửa bài, và viết thêm bài mới. Tờ báo chỉ đem lại giải 3 cholớp, nhưng đối với tôi, đó là một thành công...

...Đồng Phú..Ngày tháng tù đày, xa nhà, thật buồn làm sao...Đi lao động về, các bạn nghêu ngao đàn hát...Tôi chép các bài hát vào cuốn sổ, tự trang trí bằng viết Bic xanh, bằng tất cả những gì được bố truyền đạt, rèn luyện. Cuốn nhạc của tôi đã được các bạn truyền tay nhau xem, có cả mấy chàng cán bộ vẫn thường hay ghé vào các sam vượt biên chơi

Tết năm đó, Ban Quản giáo trại muốn làm vài khẩu hiệu mừng Xuân, làm một cây mai giả, và báo tường đón Xuân. Anh Lộc nhớ đến cuốnnhạc của tôi, nhân cơ hội này, gọi tôi lên Tổng Hợp làm việc. Khẩuhiệu, báo tường thì là sở trường của tôi rồi, còn vụ hoa mai giả nữa, mới là khó. Ở giữa miền rừng rú này, kiếm dâu ra vải hay giấy làm hoa ? Nhưng "cái khó ló cái khôn", tôi dùng giấy vệ sinh Kiss me, mài nghệ ra để làm màu hoa, dùng thuốc đỏ nhuộm nhuỵ hoa, kiếm thêm một cành khô dáng hay hay một chút, rồi gắn hoa lên, tạo dáng, gắn lá ...Thế là xong

Bao nhiêu năm qua rồi, tôi càng ngày càng trưởng thành hơn...Tôi có thể làm những cuốn "Một cuộc đời", "Về nguồn", "Quê ngoại"...hay làm các CD cho GPE, kỷ yếu GPE, cũng như những cuốn lưu niệm làm qua tặng đám cưới cho Bình...tất cả đều có công dạy dỗ, hường dẫn của bố từ nhỏ

20/11, ngày Nhà Giáo VN, tôi không chỉ nhớ thày cô, mà còn nhớ bố thật nhiều...Vì bố cũng chính là thày của tôi, người thày dạy dỗ tôi bằng suốt cuộc đời của mình

Saturday, November 15, 2008

Thư của bố

Ngày đó...Trong một lá thư gửi về nhà, chẳng hiểu sao lúc ấy, tôi nhớ bố lắm và chợt nhận ra từ khi tôi xa gia đình đến giờ, bố chưa bao giờ viết cho tôi ...Thế là đặt bút viết một mạch : "Ở đây, các bạn của con có bố lên thăm, hoặc có những lá thư của bố...và ai cũngthắc mắc, vì sao con không có ? Chẳng lẽ bố không có gì để nói, để viết cho con sao ?'

Và thế là lần thăm nuôi đó, tôi đã nhận được thư bố. Thư viết thứ bảy, nghĩa là được viết trước ngày CN để mẹ đi thăm...Văn của bố rất dễ nhận ra.

Nhận được thư của bố, tôi khoe khắp đội, một phần vì thư quá hay, một phần vì xúc động quá. Kỷ niệm này...tôi không sao quên được.

Thời gian qua nhanh, tôi vẫn ấn tượng về lá thư của bố. Tôi tiếc mãi, vì không sao nhớ được lời của bố để ghi lại. Vậy mà, mẹ lại chép cẩn thận, và 2 năm sau ngày mẹ mất, chị N và Hạnh đã tìm thấy trong ngăn tủ của mẹ

Lá thơ viết bằng giấy vàng khè, loại giấy của những năm đất nước bước sang trang sử mới, chẳng biết lúc ấy giấy trắng đi đâu hết mà chỉ thấy toàn giấy đen và vàng, vậy mà hồi ấy học sinh đi học không bị cận mới là lạ ...

scan0027scan0028


"- Nếu, nếu ... chữ nếu tai hại quá, với chữ nếu, người ta có thể làm được mọi việc như 1 nhà văn Pháp đã nói với chữ nếu ta có thể bỏ cả TP Paris vào trong túi áo.

- Nếu mũi của nữ hoàng Cléopâtre dài hơn một chút thì thế giới đã thay đổi v...v và v...v.

Bây giờ thì mọi sự đã lỡ rồi. Ăn năn đã muộn. Thôi thì để an ủi mình cứ cho là số phận. Tại số phận chứ còn biết bảo gì. Tiếc thương những ngày đẹp đã qua cũng là vô ích. Vấn đề chính là sự sống. Hiện hữu mới là vấn đề chính. "To be or not to be that is the question" như Shakespeare đã cho nhân vật Hamlet nói.

Vậy thì phải lo sống đã. Bây giờ trước mắt phải lo tích cực công tác, tôn trọng kỷ luật, luôn luôn cố gắng hết mình để sớm trở về đoàn tụ. Con nói yếu nhiều. Ở đây, Mẹ cũng chia xẻ với con đây. Mẹ hồi này cũng đủ thứ bệnh: tim, gan, tê thấp v..v... Mệt mỏi về vật chất lẫn tinh thần. Nhưng vẫn phải cố gắng. Mỗi người có một lối bày tỏ tình thương yêu. Người thì sôi nổi, người thì trầm lặng. Nhưng cách nào thì cũng quy vào một mối.

Tất cả mọi con đường đều dẫn đến thành La Mã. Cứ yêu đời như Anatole Fruina, nghèo mà vẫn ao ước giàu. Nếu ông ta giàu thì sẽ xây một căn nhà trên sườn đồi.

Si j'étais riche, je batirais sur le peuchant d'une colline. Rút lại, A. Fruina chẳng bao giờ giàu, chẳng bao giờ xây được căn nhà lý tưởng nhưng ông đã để lại tác phẩm văn xuôi đọc nghe êm tai như thơ và du dương như nhạc"

Lá thư bố viết rất dài, chỗ này chỉ là một đoạn hay, mẹ chép lại. Cám ơn mẹ của con nhiều lắm, vì nếu không, thì con sẽ không còn dịp đọc lại nữa...

Hàn Lâm ViệnThị Giảng

Mặt sau tấm hình của ông nội là một bài thơ ông làm và ký tên Hàn lâm viện thị giảng Trần Hữu Giương.


Photobucket

Tôi đã được nghe bố nói về chức quan này là quan giảng bài cho vua...phẩm hàm của nó đứng sau Hàn lâm viện thị độc.

Tình cờ, đọc được bài viết sau nói khá rõ và chi tiết về các chưc quan văn trong Hàn lâm viện...chép vào đây cho mọi người cùng đọc nhé...Còn dĩ nhiên, ông nội của chúng ta là quan thực sự, chứ không phải hư hàm đâu nhé

CÓ NHỮNG ÔNG NGHÈ không đỗ Tiến sĩ. . .

Trong tập hồi ký Thượng tứ ngày xưa, nhớ nhớ...quên quên , đọc thấy có đọan Quế Chi Hồ Đăng Định viết:

“Cái thằng bạn thứ hai là thằng Rô, con bác Nghè Đãi, mở tiệm bán thuốc Bắc hiệu Phước Thọ Đường, bác gái mạ hắn thì chuyên cầm đồ thượng vàng hạ cám. Tôi cứ thắc mắc mấy chục năm ni mà chưa có dịp hỏi hắn. . . Là thường thường ai đậu Tiến sĩ mới được kêu là ông Nghè, rứa thì ba hắn đậu cái chi mà cũng cứ gọi là ông Nghè?. . . Cũng tương tự như vậy, trong xóm tôi, ngã đầu Hậu Bổ, cũng có bác Nghè Quế, thợ may, bạn của ba tôi, không biết có Tiến sĩ không???” (tr.43)

Tôi tin rằng dẫu Quế Chi có gặp lại người bạn cũ tên Rô mà nêu thắc mắc này thì cũng không mấy hy vọng có lời giải đáp, bởi chuyện nghe và thấy sờ sờ mà không đơn giản. Tôi có một ông anh rể, lấy bà chị con ông bác. Ông anh này đầu quân vào ngạch công chức Nam triều. Tôi nhớ khi anh bắt đầu sớm vác ô đi tối vác về thì mẹ tôi dặn từ nay phải gọi bằng anh Thừa – sau mới biết là gọi tắt của hai chữ Thừa phái, là hạng công chức Nam triều mới tuyển dụng, đang còn ở giai đọan tập sự công việc chành chánh. -- Vài năm sau, lại nghe mẹ tôi đổi kêu là anh Nghè, và bảo anh em chúng tôi cũng gọi như thế, vì “anh Thừa mới lên chức”. Trẻ con, biểu sao nghe vậy, cho đến khi đi học, nghe thầy giảng rằng người đỗ Tiến sĩ mới được gọi là ông Nghè, bèn nghĩ trong bụng: mình có ông anh rể oai thiệt. Lớn lên, mới biết có những ông Nghè không cần đỗ Tiến sĩ, và họ cũng không phải lọai Tiến sĩ giấy, như trong một bài thơ châm biếm của Nguyễn Khuyến:


Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai;

Cũng gọi ông Nghè có kém ai;

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .


Ngòai vụ những ông Nghè như thế này, tôi còn thấy trong xã hội ta ngày trước, có những ông quan mà không phải quan. Chẳng hạn ông già vợ của bạn tôi thường được mọi người kêu là ông Hường K. Tôi đinh ninh chắc ông cụ hồi trước có làm quan, đến chức Hường (Hồng)lô Tự khanh nên mới được gọi như thế. Sau mới biết là ông cụ vốn là y tá thượng hạng hưu trí của ngạch Bảo hộ. Lại một ông khác, vốn là Phán sự Tòa Khâm sứ Huế, cũng là công chức thuộc ngạch Bảo hộ của Pháp, ban đầu được mọi người trong xóm kêu là ông Phán, nhưng một thời gian lâu sau, lại đổi gọi là ông Hường, dù ông vẫn còn làm việc cho Tòa Khâm và thường mặc Âu phục, chứ chẳng thấy khăn đóng áo dài, bài ngà, gì cả..


Xem ra, việc một người không học hành đỗ đạt gì cả nhưng vẫn được gọi là ông Nghè, hoặc không gia nhập quan trường nhưng vẫn được gọi ông Cửu, ông Bá, ông Hàn, và việc một công chức thuộc quyền quản lý của chính quyền Bảo hộ Pháp lại mang chức hàm của triều đình Huế, là một hiện tượng phổ biến trong xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Có ba con đường dẫn đến hiện tượng đó. Hoặc người đó được thưởng hư hàm, hoặc mua hư hàm, hay đối hàm.


Trong hai ông nghè mà Quế Chi nêu ra, tôi nghĩ ông Nghè Quế thuộc lọai được thưởng hư hàm, còn ông Nghè Đãi có thể thuộc lọai mua hư hàm. Hư hàm nghĩa là có chức, có danh nhưng không có thực quyền.


Ai đã có lần vào thăm bên trong lăng Khải Định, tức bên trong điện Khải Thành, chỗ thờ vua Khải Định, đều thấy trên nóc điện có một bức bích họa rồng mây rất đặc sắc. Đó là tác phẩm “Long vân khế hội”của nghệ nhân Phan Văn Tánh. Nhờ tác phẩm này, ông được thưởng hàm Cửu phẩm văn giai, và từ đó người ta gọi là ông Cửu Tánh. Đó là một hư hàm, chỉ để vinh danh, chứ ông Cửu Tánh không có dự trong quan trường.

Hễ một người dân nào đó có công lao đặc biệt, họ có thể được quan địa phương đề bạt để triều đình thưởng phẩm hàm, và đây là một lệ có từ lâu chứ không phải mới sau này. Tôi nghĩ rằng có thể bác Nghè Quế của Quế Chi, khi còn chế độ quân chủ ( trước 1945) là một thợ may khéo, từng may áo quần cho Hòang gia, và cấp trên hài lòng, nên được thưởng phẩm hàm. Đặc biệt, ông lại được thưởng hàm Hàn Lâm viện, chắc là Hàn lâm viện Đãi chiếu, trật tùng cửu phẩm (9/2), bậc thấp nhất trong quan trường. Hàm Hàn lâm vốn dành cho giới không văn hay để đỗ đạt thì cũng chữ tốt để được tuyển dụng vào làm thư ký để sao chép giấy tờ. Mà đã có hàm Hàn lâm thì được người ta rộng rãi gọi tâng lên là ông Nghè

Trong quan chế Nhà Nguyễn, có hàm Hàn Lâm Viện dành cho giới chữ nghĩa.

Thấp nhất là Hàn lâm viện Đãi chiếu, ở trật tùng cửu phẩm (9/2). Kế đến là Hàn lâm viện Cung phụng (9/1); Hàn lâm viện Điển bạ (8/2); Hàn lâm viện Điển tịch (8/1); Hàn lâm viện Kiểm thảo (7/2); Hàn lâm viện Biên tu (7/1); Hàn lâm viện Tu sọan (6/2); Hàn lâm viện Trước tác (6/1); Hàn Lâm viện Thị giảng (5/2), Hàn lâm viện Thừa chỉ (5/2); và cuối cùng, cao nhất là Hàn lâm viện Thị độc, ở trật chánh ngũ phẩm (5/1) , ngang hàng với Giám sát ngự sử và Đốc học các tỉnh, cao hơn Tri phủ một bậc.

Ban đầu, hàm Hàn Lâm Viện dùng trong việc bổ dụng những người xuất thân khoa bảng, hoặc những người có học, chữ tốt (thư thủ) được tuyển dụng làm thư ký. Chẳng hạn , đời Minh Mạng (1820-1841), đã bổ dụng người đỗ đầu Tiến sĩ làm Hàn lâm viện Tu sọan (6/2), người đỗ thứ ba làm Hàn lâm viện Biên tu (7/1), và cho người viết chữ tốt hạng Ưu làm Hàn lâm viện Cung phụng (9/1).

Nhưng từ đời Tự Đức trở về sau, nguyên tắc này trở thành lỏng lẻo, nhất là từ khi có việc tặng hư hàm cho những người có công quyên góp tiền bạc dùng vào quân phí hay chi phí xã hội.


Đầu tiên, lệ năm Tự Đức thứ 16 (1863) định rằng hễ ai có lòng từ thiện , quyên tiền hoặc lúa (qui ra tiền) cho nhà nước để giúp vào việc trợ cấp dân chúng trong lúc khẩn cấp vì thiên tai, dịch bệnh, thì sẽ được thưởng phẩm hàm. Qui định giá cả như sau:


Số tiền quyên góp

Phẩm hàm được thưởng

1,000 quan

Tùng cửu phẩm Bá hộ (9/2)

2,000 quan

Chánh cửu phẩm (9/1)

3,000 quan

Tùng bát phẩm (8/2)

4,000 quan

Chánh bát phẩm (8/1)

5,000 quan

Tùng thất phẩm (7/2)

6,000 quan

Chánh thất phẩm Thiên hộ(7/1)

7,000 quan

Tùng lục phẩm Thông phán (6/2)

8,000 quan

Chánh lục phẩm Chủ sự (6/1)

Vậy nếu có người chỉ có khả năng quyên dưới 1,000 quan thì sao? Đây là giá biểu:

Số tiền quyên góp

Quyền lợi được hưởng

900 quan

Miễn binh dịch, thuế thân và công ích trong 14 năm

800 quan

Miễn các khỏan trên trong 13 năm

700 quan

Miễn các khỏan trên trong 12 năm

600 quan

Miễn các khỏan trên trong 11 năm

500 quan

Miễn các khỏan trên trong 10 năm

400 quan

Miễn các khỏan trên trong 8 năm

300 quan

Miễn các khỏan trên trong 6 năm

200 quan

Miễn các khỏan trên trong 4 năm

100 quan

Miễn các khỏan trên trong 2 năm


Thế nhưng hai năm sau, năm Tự Đức thứ 18 (1865) vì quá cần tiền – do thua trận Pháp và Tây Ban Nha, phải bồi thường chiến phí -- giá biểu thấy sụt xuống để quyên được nhiều hơn . Giá căn bản là 800 quan (thay vì 1,000), hễ cứ thêm 1,000 quan thì được lên một trật. Đã thế lại còn mở rộng ra, hễ người ủng hộ có chút học thức hay võ nghệ thì có thể dự một kỳ sát hạch tại Bộ Lại (cho quan văn) hoặc Bộ Binh (cho quan võ) và nếu đậu thì sẽ được bổ dụng làm quan. Chưa hết, vua còn cho các quan có lỗi, bị cách chức hay giáng cấp được dùng tiền để chuộc lỗi, nghĩa là phục hồi chức vụ cũ. Đúng là cảnh mua quan bán tước. Có lẽ việc mở cửa này đã bị tràn ngập những hệ lụy xấu xa nên qua năm sau, Tự Đức thứ 19 (1866) vua ra lệnh chấm dứt việc đóng tiền làm quan hoặc nạp tiền để khôi phục phẩm hàm. Chỉ duy trì việc thưởng hư hàm cho người quyên góp mà thôi, và chỉ quyên góp khi cần, khi có lệnh, chứ địa phương không được tùy tiện mở ra. Hư hàm nghĩa là có chức mà không có thực quyền.

Năm Thành Thái thứ 1 (1889) định rằng ai quyên một ngàn quan trở lên, nếu là dân thường thì cho tùng cửu phẩm bá hộ, còn ai đã có dự thi cử, nghĩa là có chữ nghĩa, thì cho tùng cửu phẩm văn giai (hàm Hàn lâm thuộc văn giai). Cứ quyên hơn 1,200 quan thì gia thêm một bậc. Đối với những người quyên dưới số 1,000 quan thì cứ 60 quan sẽ được miễn binh dịch, thuế thân và công ích một năm.

Tiếng nói rằng “quyên” nhưng thực sự là việc mua phẩm hàm để có chút địa vị trong xã hội, nhất là ở chốn hương thôn. Trong làng xã, dù giàu có bạc vạn mà không có một chút chức vị gì thì vẫn bị coi thường. Họ bị xếp vào lọai bạch đinh, nghĩa là chân trắng, phải gánh vác mọi nghĩa vụ trong làng, và khi ra chốn đình trung phải đóng vai hầu hạ, điếu đóm cho lớp chức sắc “ăn trên, ngồi trước”. Bởi vậy, người ta phải cố chạy cho được một chút phẩm hàm để trở thành ông nọ ông kia, chứ không phải là anh là thằng nữa. Những ông Cửu, ông Bá, ông Nghè , nếu không xuất thân bằng ngõ quan trường hay tưởng thưởng thì chính là hạng mua chức, mua hàm cả.

Đến cái việc đối hàm mới là độc đáo, mới thấy người Pháp khi đô hộ nước ta đã tỏ ra rất sành tâm lý dân Việt.

Đối hàm là nguyên tắc cho phép công chức thuộc ngạch Bảo hộ - nghĩa là công chức do chính quyền Bảo hộ quản trị, điều động và trả lương -- được xem là tương đương với phẩm hàm gì bên quan lại Nam triều để được vua Việt Nam ban cho phẩm hàm đó . Đứng về mặt quyền lợi, công chức ngạch Bảo hộ có lương bổng và phúc lợi cao hơn quan lại Nam triều rất nhiều, nhưng tại sao họ lại thích và cần đến cái phẩm hàm đầy vẻ phong kiến đó để làm gì?

Tôi đọc ở đâu đó có một “ông Tây” nói rằng trong đầu óc của mỗi người Việt Nam đều có một ông quan , nghĩa là hiếu danh. Dù làm việc cho Bảo hộ quyền lợi có cao hơn nhưng chức danh nghe không oai , không kêu, nếu không nói là có vẻ xa lạ với xóm làng sau lũy tre xanh. Ai có địa vị cũng muốn áo gấm về làng cả, mà làng xóm thì không quen, không trọng nễ ông Thông, ông Phán, ông Ký cho bằng quan Hường, quan Thị, quan Lang, do đó, quí vị công bộc ăn lương bảo hộ nhưng vẫn cần đến cái danh hảo mà vinh quang của triều đình. Biết được điều đó, nên để khích lệ tinh thần phục vụ của nhân viên, người Pháp thỏa thuận với Nam triều về biện pháp đối hàm như là một hình thức tưởng thưởng.

Lệ năm Thành Thái 19 (1907) định rằng những người Việt làm việc cho chính quyền Bảo hộ lúc đến tuổi về hưu, hoặc vì lý do gì đó muốn rời bỏ quan trường, có thể căn cứ vào mức lương bổng để cho phẩm hàm. Tiêu chuẩn đối hàm như sau:

Bảo hộ

Nam triều

Tham biện hạng nhất

Chánh tứ phẩm (4/1)

Tham biện hạng nhì

Tùng tứ phẩm (4/2)

Phán sự , Ký lục hạng nhất

Tùng ngũ phẩm (5/2)

Phán sự , Ký lục hạng nhì

Chánh lục phẩm (6/1)

Thông sự , Ký sự hạng nhất

Tùng lục phẩm (6/2)

Thông sự, Ký sự thí sai hạng nhất và nhì

Chánh cửu phẩm (9/1)

Thông sự, Ký sự thí sai hạng ba và tư

Tùng cửu phẩm (9/2)

Chánh tứ phẩm thì có thể được các hàm như Hồng (Hường) lô tự khanh, Lang trung, Thị độc học sĩ, từ đó có quan Hường, quan Thị, quan Lang.

Tùng tứ phẩm có thể được các hàm như Quang lộc tự thiếu khanh, Thị giảng học sĩ; Chánh ngũ phẩm thì có Hồng lô tự thiếu khanh, Hàn lâm viện Thị độc, Đốc học, Phó Quản đạo. Tùng ngũ có Hàn lâm viện Thị giảng, Tri phủ. Chánh lục phẩm có Đồng Tri phủ, Tri huyện. Đến như đẳng trật thấp nhất là tùng cửu phẩm cũng có hàm rất kêu là

Hàn lâm viện đãi chiếu để được gọi là ông Nghè.

Kèm theo cái bằng sắc [1] của triều đình còn có áo gấm bài ngà (nếu phẩm hàm cao), ra chốn đình trung trông vẫn oai hơn thầy ký hay ông Phán, ông Tham mặc đồ tây.


Việc đối hàm này, ban đầu chỉ giới hạn trong ngạch hành chánh khi nghỉ việc, nhưng sau mở rộng sang các ngành chuyên môn khác như công chánh, y tế, giáo dục, và vào bất cứ lúc nào đương sự bày tỏ nguyện vọng muốn được đối hàm. Bởi vậy một ông y tá hay một ông giáo về hưu, có thể có phẩm hàm đã đành, mà một ông Phán sự đang làm việc tại dinh Công sứ cũng có thể có phẩm hàm và bài ngà, nếu hợp lệ. Nam kỳ lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, không có chế độ đối hàm như ở Trung và Bắc kỳ, và mặc dầu đã thiết lập một hệ thống viên chức mới để giúp việc cai trị, họ vẫn chấp nhận cách gọi cũ, ít ra cũng trong thời gian đầu, như Tổng đốc ( Tổng đốc Phương, Tổng đốc Lộc), Phủ (Tôn Thọ Tường), Huyện (Huyện Của), vì biết dân Việt sính gọi như thế. Cụ Vương Hồng Sễn trong hồi ký Hơn nửa đời hư có kể chuyện ông Diệp Văn Cương, sau khi ra Huế giữ chức thông ngôn cho Tòa Khâm sứ Huế, có được phẩm hàm của triều đình, khi trở về Nam dạy học, vẫn thích học trò “bẩm quan” hơn là “thưa thầy”.

VÕ HƯƠNG-AN

[1] Quan cấp cao thì được vua ban sắc, cấp nhỏ như thất, cửu phẩm thị Bộ xét cấp bằng

Một thoáng suy tư về họ tộc ngoài Bắc

Ngày nọ, Bảo Khanh hỏi mẹ : "Trong lịch sử có nói sơ về cải cách ruộng đất...mẹ kể cho con nghe kỹ hơn, được không ?".

Ôi, con gái tôi! Nó thừa hưởng cái gien của ông ngoại, của mẹ nó đây mà. Nó yêu lịch sử lạ lùng, chính vì thế, tôi không bao giờ muốn con gái tôi hiểu một cách sai lệch về lịch sử. Sử thì phải chân thật, phải đúng. Cái gì còn nghi vấn, là nghi vấn, cái gì rõ như ban ngày, thi phải hiện ra...Rồi con cũng sẽ khổ như mẹ thôi, nếu con vương vấn cái nghiệp này

Hy vọng sự vô tư của con sẽ giúp con đỡ cơ cực như cuộc đời mẹ, cuộc đời của ông ngoại

Sau vài ba cuộc tìm kiếm trên Google về cải cách ruộng đất, và vụ án Nhân văn giai phẩm, tôi không sao cầm được nước mắt...Có cái gì khủng khiếp, tê tái, cay đắng hơn nhiều so với những gì tôi đã được nghe, được kể. Những số phận của bà Cát hanh Long,, của gia đình vợ Hữu Loan, của Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang lần lượt tái hiện rõ nét, làm tê dại đến từng hơi thở, từng mạch máu trong tôi

Tôi nhớ về gia đình, dòng họ của mình ngày đó. Vâng, dòng họ tôi ngày ấy, chắc cũng chịu đựng bao khiếp hãi như thế này đây.

Bố kể : "Ông nội không chịu di cư vào Nam, nên bác Thụ phải ở lại. Bác viết thư cho bố : Cực khổ gì anh cũng chịu được hết. Nhưng anh luôn để sẵn một liều thuốc độc trong nhà. Nếu ngày nào thằng Hùng, thằng Dũng con anh nó đưa anh ra đấu tố, thì anh sẽ tự tử ngay thôi"

Có lẽ chỉ có phúc đức tổ tiên, và nhờ ơn trên gia đình bên nội của tôi mới qua được cơn khủng hoảng ấy. Ông bà nội là nhà buôn gạo sỉ lớn nhất Hà Nội mà

Nạn đói xảy ra, người dân nổi loạn cướp bóc khắp nơi. Kho gạo của ông bà không ngoài tầm ngắm của bọn họ. Mấy tên siĩquan Nhật báo tin cho ông và hỏi ông có cần tụi nó bảo vệ kho gạo không ? Nhưng ông từ chối, và ra lệnh cho gia nhân mở kho gạo ra cho mọi người vào lấy tự do, thoải mái

Ngày miền Bắc giải phóng, nhà không còn buôn gạo nữa, nhưng một nửa số đã di cư...Chắc chắn việc này sẽ gây khó khăn cho những người ở lại không ít. Vì thế, tôi không còn ngạc nhiên khi họ nói : "Mấy ông, mấy bà di cư vào Nam, được hưởng sung sướng, bỏ mặc cho bọn tôi ở lại giữ nhà, hứng chịu bao nhiêu điều cay cực..."

Và bỗng nhiên, tôi cũng không còn ý nghĩ bực bội nào về những điều họ nói về sở hữu căn nhà 8 Đông Thái nữa.

Kể ra, ngẫm nghĩ lại cũng đúng...Đúng ở đây, không phải đúng chuyện họ kể công giữ nhà. Mà đúng là đúng chuyện họ phải chịu đựng sự đối xử khắc nghiệt, sự kỳ thị lý lịch của chế độ mới

Bác Bé lấy chồng, một cán bộ Đảng viên, để tạo ra một lý lịch trong sạch hơn. Bác kể chuyện ngày đấu tố...Ngày ấy chắc hãi hùng lắm. Mình phải đi lạy từng thằng gia nhân, đày tớ làm công trong nhà khi trước. Ông bà là người nhân đức, nên cũng chẳng gây thù oán với ai. Tuy vậy, chẳng ai học được chữ ngờ đâu

Cũng may là...những người làm công cho mình cũng hiền. Tài sản của ông bà lúc ấy cũng chẳng còn gì, ông đã không còn bán gạo nữa từ ngày bà mất. Sạp vải của bác Bé ở chợ Đồng Xuân đóng cửa rồi.

Cũng may là không khí buổi đấu tố ấy cũng hiền, các quần chúng khác không lên cơn kích động...

Gia đình tôi bên nội tôi đã thoát chết như thế.

Tôi nhớ lại thời kỳ đầu miền Nam mới giải phóng. Không đến nỗi nhiều thảm hoạ như miền Bắc, nhưng cũng biết bao gia đình bị tịch biên tài sản qua đợt cải tạo tư sản mại bản, biết bao người bỏ đất nước ra đi...Để rồi hôm nay, nhìn lại, chúng tôi đơn độc không còn họ hàng nội, ngoại bên cạnh sum vầy, đùm bọc lẫn nhau

Rồi đây, tôi hy vọng sẽ có ngày trở lại Hà Nội, thăm lại căn nhà 8 Đông Thái, không phải để đòi lại nhà, mà chỉ là thắp nén nhang cho ông bà, tổ tiên. Tôi sẽ đặt hình của bố lên bàn thờ của họ tộc để bố được gần ông, bà, các bác...

Mọi oán hận, xin được cởi bỏ, tháo gỡ, và trong tâm tình đó, tôi nghĩ chuyện căn nhà sẽ được giải quyết rõ ràng, có lý, có tình...trong thương yêu và tha thứ